Đêm hòa nhạc kỷ niệm D.D.Shostakovich

D.D.Shostakovich – một trong những cánh chim đầu đàn của nền âm nhạc Nga – Xô Viết. Với những danh hiệu: nhạc sĩ sáng tác khí nhạc, nhà sư phạm, nghệ sĩ dương cầm, nhà hoạt động xã hội, nghệ sĩ nhân dân toàn liên bang Xô Viết (cũ), giáo sư của ba nhạc viện lớn: Moscow, Leningard (Saint Peterboung) và Kiev. Từ năm 1947, ông từng là đại biểu của Xô Viết tối cao cộng hòa Nga và liên bang Xô Viết cũ. Tác phẩm của ông được nhiều giải thưởng lớn của quốc gia và quốc tế; ông được công nhận là anh hùng lao động (1966), “viện sĩ hàn lâm nghệ thuật” tại các nước Đức (1955), Ý và Anh (1958).
D.D.Shostakovich mất ngày 9/8/1975, để lại một di sản âm nhạc vô cùng quý giá cho nhân loại gồm: nhiều vở nhạc kịch (opera) trong đó nổi tiếng có vở nhạc kịch cái mũi (dựa theo truyện của Gogol), Ekaterina Izmailova, nhạc cho vũ kịch (ballet), nhạc cho nhiều bộ phim nổi tiếng: ruồi trâu, người cầm súng, đội cận vệ thanh niên, hàng trăm tác phẩm khí nhạc thuộc nhiều thể loại lớn nhỏ khác nhau, đặc biệt là bản giao hưởng số 7 được viết trong thời kỳ thành phố Leningrad bị phát xít Đức bao vây. Ngoài ra, những tác phẩm của ông viết cho hợp xướng và dàn nhạc cũng mang quy mô rất hoành tráng. m nhạc của ông có ảnh hưởng rất lớn đến phong cách sáng tác của các nhạc sĩ đương đại thế giới và Việt Nam.
Năm nay, không chỉ ở Moscow, Paris, London mà tại thành phố Hồ Chí Minh đã có hai buổi kỷ niệm nhân lần thứ 90 ngày sinh của ông vào tối 22/9/1996 tại Nhà Văn Hóa và Khoa Học Nga (2 bis Trần Cao Vân) với phần giới thiệu về thân thế sự nghiệp và chiếu phim minh họa vở ballet kỷ nguyên vàng của ông. Sau đó, tối 25/9/1996 vừa qua tại khán phòng của nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh một chương trình hòa nhạc với các tác phẩm thính phòng đặc sắc của D.D.Shostakovich do giảng viên, học sinh, sinh viên nhạc viện trình diễn. Chương trình đã thu hút đông đảo khán thính giả trong và ngoài nước tại thành phố. Buổi hòa nhạc này do nhà văn hóa và khoa học Nga kết hợp cùng nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh tổ chức.
Định hướng việc làm
Tôi năm nay 30 tuổi, hiện đang trông coi một quầy báo nhỏ. Thu nhập tương đối nhưng không ổn định.
Tôi sắp lấy bằng B anh ngữ vào tháng 12/1996. Nguyện vọng của tôi là trở thành giáo viên dạy tiếng Anh. Nhưng điều tôi băn khoăn là mình chưa tốt nghiệp đại học. Vậy tôi có thể đi dạy được không nếu như tôi lấy thêm bằng C hoặc qua khóa đào tạo giáo viên tiếng anh của trường Nguyễn Du. Thật sự tôi rất muốn học đại học nhưng tình hình tài chính của tôi không cho phép. Hãy giúp tôi một lời khuyên.
Trần Thụy Vi
Bạn Thụy Vi thân mến,
Muốn trở thành giáo viên bạn cần phải tốt nghiệp từ các trường chuyên môn đào tạo nghiệp vụ sư phạm như cao đẳng sư phạm hoặc đại học sư phạm (trường Nguyễn Du như trong thư bạn đề cập không phải là nơi đào tạo giáo viên). Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hiện nay của bạn, bạn nên tạm thời tiếp tục công việc của mình, cố gắng lấy thêm bằng C anh văn. Sau đó nếu thật sự yêu thích nghề giáo, bạn có thể liên lạc với phòng giáo dục tại địa phương để xin làm giáo viên giảng dạy theo hợp đồng.
Trong trường hợp bạn muốn có một công việc ổn định hơn với trình độ anh văn bằng C, bạn nên tìm một công việc văn phòng vào giờ hành chính để có thu nhập đều đặn mà vẫn có thời gian săn sóc con cái và chu tất việc gia đình.
Phóng Viên -Thế giới phụ nữ- Phụ nữ Việt Nam- Năm 1998

Lửa gần rơm

Cái tin vợ chồng chị N.T.B.N. và anh P.H.S. ở quận Phú Nhuận đã chính thức chia tay nhau khiến hầu hết những ai quen biết họ đều ngạc nhiên, sửng sốt vì trước đó không lâu, hạnh phúc của cặp vợ chồng trẻ này vẫn là nỗi khát khao của nhiều người…
Cuối năm 1992, với số vốn tích lũy được sau bảy năm chung sống, vợ chồng anh S. quyết định vay mượn thêm để mở cửa hàng bán đồ trang sức. Sẵn có anh V – bạn thân – rành nghề vàng bạc, anh S. đã về tận Long An đón bạn lên cùng làm ăn. Hơn hai năm đầu, công việc kinh doanh phát triển hết sức tốt đẹp, hứa hẹn một tương lai tươi sáng…
Mọi sự chắc sẽ vẫn tốt đẹp nếu như từ đầu năm 1995, anh S. không phải thường xuyên đi công tác xuống Vũng tàu, mà mỗi đợt kéo dài tới tuần lễ, nửa tháng, giao phó cửa hàng và vợ con cho bạn mình trông nom, cai quản!
“Lửa gần rơm”… Mối quan hệ bất chính giữa chị N. và anh V. không biết đã bắt đầu từ khi nào và do ai chủ động, nhưng cuối năm 1995, sau một đợt công tác dài ngày từ Vũng Tàu về, anh S. đã nhận được lá đơn ly hôn do chính tay vợ mình viết.
Thoạt đầu, anh S. không tin nổi vào mắt mình, nhưng sau khi được nghe vợ thú nhận hết mọi “tội lỗi” và yêu cầu anh rộng lượng tha thứ cũng như tạo điều kiện cho chị được chính thức trở thành vợ của anh V. trong thời gian ngắn nhất thì anh mới đau đớn nhận ra rằng: hạnh phúc gia đình của mình đã thật sự đổ vỡ! Dù cho dư luận có hết lời lên án vợ và bạn anh, nhưng trong cái kết cục cay đắng ấy chính anh lại là người đáng trách hơn ai hết!
Vâng, nếu như ngay từ đầu anh không chủ quan như vậy…
Còn anh V. và chị N. liệu sẽ có được hạnh phúc bên nhau không? Chắc là không! Bởi lẽ, họ không được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi vì cương quyết không thừa nhận cuộc hôn nhân trái với đạo lý. Bên cạnh đó, sau khi nỗi đam mê qua đi, chắc chẵn sẽ chỉ còn mặc cảm tội lỗi đè trĩu lê tâm hồn họ. Phải chăng đó chính là cái giá phải trả cho những phút giây nông nỗi nhất thời, không làm chủ được bản năng thấp hèn trong mỗi con người?
Nói thầm
…Cháu khổ sở quá, vì đầu ngực không ở bên ngoài mà lại hụt vô trong… Chắc sau này cháu không thể có chồng và có con được… Có ai bị như cháu không? Làm sao bây giờ?… Năm nay cháu 19 tuổi…
Tr.Th.L.H (quận 8)
Câu hỏi này đã được trả lời nhiều lần, chứng tỏ sự việc này rất phổ biến, và có thể xem như trường hợp điển hình của chuyện mà ông bà thường cho là “lo bò trắng răng”. Vì cách hay nhất, hiệu quả nhất để làm đầu ngực lòi ra, chính là… lấy chồng và mang thai. Chức năng chủ yếu của bầu ngực ở phụ nữ là sản xuất sữa để nuôi con, như “ông trời” đã định sẵn, và đã cài đặt vào “bộ nhớ” kể từ khi người đàn bà xuất hiện trên hành tinh, như một đặc tính sinh tồn của các động vật có vú. Chủng loại nào không như vậy, thì sẽ bị nhanh chóng “xóa sổ”. Những “công dụng khác” của bầu ngực thì chỉ đơn thuần do con người bày đặt ra, nên có tính cách “văn xã”, thay đổi từ nước này đến nước kia, thời đại này sang thời đại khác. Như vậy, đến chừng có thai, gần ngày sanh, đương nhiên hai bầu ngực sẽ phải “cật lực” phát triển, thể tích gia tăng gấp nhiều lần, và đẩy đầu vú ra ngoài, trong tuyệt đại đa số các trường hợp.
Đặt giả thuyết, rất hiếm, là “nó” vẫn “chưa chịu ra” thì sao? Hiện tại, có một dụng cụ có thể kéo đầu “nó” ra khá dễ dàng nên cháu chẳng có việc gì phải khổ sở như vậy! Tuy nhiên, cháu khoan chạy đi hỏi mua y cụ nói trên, cứ để mọi chuyện diễn tiến tự nhiên trước đã. Xe còn mới nguyên, chưa sử dụng, ai lại đem đi “điều chỉnh” bao giờ?
Phóng Viên – Thế giới phụ nữ- Phụ nữ Việt Nam- Năm1998

Đi học trường tây

Mấy năm nay, hình ảnh những ngôi trường tây sang trọng với những điều kiện học hành hiện đại, tối ưu, những mức học phí vượt ngoài tưởng tượng… đã trở nên quen thuộc với nhiều người ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. “Cho con học trường tây” đã trở thành niềm ao ước của một số rất ít phụ huynh giàu có…
International Grammar School là trường duy nhất tính đến nay ở thành phố Hồ Chí Minh. Trường ra đời tháng 12/1993, gồm hai cơ sở 236 Nam Kỳ Khởi Nghĩa (quận 3) và 87 Trần Quốc Thảo (quận 3). Lúc mới thành lập, trường chỉ có 30 học sinh nhưng đến nay, dự tính sẽ có khoảng 500 em (gồm hơn 30 quốc tịch) vào học trong năm học 1996 – 1997, từ mẫu giáo cho đến lớp 10 và một số lớp dự bị mẫu giáo cho trẻ 3 – 6 tuổi. Ngôn ngữ chính các em được làm quen từ nhỏ là tiếng anh, tiếng việt là “ngôn ngữ thứ hai”.
Hiện giá học phí mỗi năm học cho các lớp dự bị mẫu giáo là 5.800USD, từ mẫu giáo tới lớp 6: 7.500USD và từ lớp 7 đến lớp 10: 8.500USD – một khoản học phí “khổng lồ” so với các gia đình người việt. Thế nhưng, theo chúng tôi biết, hiện đã có 120 đơn xin cho con vào học “trường tây” của các gia đình người Việt trong thành phố song theo quy định, trường chưa nhận số học sinh này. Còn với các gia đình người nước ngoài? Tại một cuộc họp phụ huynh học sinh các bậc cha mẹ đều cho rằng, học phí này vừa phải so với thế giới.
Trường tây ở Sài Gòn là kết quả của sự hợp tác giữa Australian International Grammar School với Sai Gon Petroleum Service Company. Trước đó, ở Hà Nội cũng đã có hai trường quốc tế dành cho trẻ em nước ngoài (ra đời từ năm 1982).
Đó là trường quốc tế của liên hiệp quốc và trường Pháp quốc tế Hà Nội. Học sinh của hai trường này là con em cán bộ ngoại giao, nhà đầu tư… đến Việt Nam làm việc. Các em theo học từ mẫu giáo đến lớp 12. Đặc biệt, hai trường này đã thu nhận hơn 65 con em các gia đình người Việt có nhu cầu vào học. Học phí ở đây rẻ hơn so với trường tây ở thành phố Hồ Chí Minh: 1.440 USD/năm cho lớp mẫu giáo và 2.070 USD/năm cho các lớp tiểu học và trung học.
Sắp tới, nhu cầu đi học của con em gia đình người nước ngoài sẽ còn tăng lên theo chiều hướng các công ty, tập đoàn…đang đầu tư ngày càng nhiều vào Việt Nam. Bên cạnh đó, những gia đình người Việt khá giả cũng có khả năng và mong muốn cho con em của mình vào học trường tây vì cơ sở vật chất, trang thiết bị học tập hiện đại và quan trọng là các cháu được làm quen với môi trường học ngoại ngữ từ bé. Vì vậy, tại thành phố Hồ Chí Minh, Internatiol Grammar School đang xúc tiến đầu tư xây dựng một cơ sở nữa để thu nhận thêm khoảng 800 học sinh, mở thêm các lớp 11, 12 và bàn bạc với bộ giáo dục đào tạo để tiếp nhận cả học sinh vào học. Một cơ sở tương tự cũng sẽ được trường mở tại Hà Nội. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là: với khoản tiền học phí như vậy, các nhà đầu tư giáo dục này đã đóng góp vào ngân sách nhà nước bao nhiêu? Với câu hỏi này, chúng tôi đã nhiều lần liên hệ làm việc với ban giám đốc phụ trách trường Internatiol Grammar School (cả phía Việt Nam và phía Úc), song đều nhận được câu trả lời: “ban giám đốc đi công tác vắng, chúng tôi không có trách nhiệm cung cấp tư liệu!”.
Đây là một vấn đề cần thiết phải đặt ra vì, bên cạnh việc phát triển một hệ thống giáo dục cao cấp mà chỉ tầng lớp có thu nhập rất cao mới có “quyền” hưởng thụ, nhà nước phải có chính sách điều tiết hiệu quả để con em nghèo cũng được hưởng một phần “phúc lợi giáo dục” chung!
Vũ Vân – Thế giới phụ nữ- Phụ nữ Việt Nam- Năm1998

Bệ phóng để tiến đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Cần phải cải tiến và đổi mới một số chính sách về thu hút nguồn vốn, về cơ chế quản lý tài chính, về xây dựng một thể chế hành chính đơn giản và gọn nhẹ cho người dân đỡ phiền hà… Đó là những ý kiến của các đồng chí đại biểu thành phố tham dự đại hội 8 lần này.
Đồng chí Lê Hồng Liêm, bí thư quận ủy quận 5: cơ chế, chính sách cho nguồn vốn và nguồn cán bộ?
Theo ý tôi, thứ nhất, cần đa dạng hóa, đa phương hóa nguồn vốn. Các nguồn lực và nguồn vốn trong nước cần tính đến là: bảo hộ cho sản xuất trong nước; thu hút vốn bằng những chương trình, dự án, công trình đầu tư có hiệu quả; thực sự hình thành một phong trào tiết kiệm triệt để, sâu rộng, trước hết là ở các cơ quan, đơn vị nhà nước; đẩy mạnh xã hội hóa những lĩnh vực đòi hỏi nhiều công sức, tiền của như giáo dục, y tế, xây dựng cơ sở hạ tầng… Trong vấn đề vốn, cũng nên tính đến tiềm năng của cộng đồng người Hoa, nhất là khi hội nhập kinh tế với khối Asean. Việc tạo ra một cơ chế nhiều sức thu hút, mời gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước; đẩy nhanh quy hoạch chi tiết đô thị, phê duyệt các dự án; điều tiết hợp lý ngân sách trong từng ngành, từng địa phương – cũng tạo ra nguồn lực và nguồn vốn đáng kể. Riêng các nguồn vốn từ nước ngoài rất quan trọng, nhưng cần tránh tình trạng quá phụ thuộc vào nguồn vốn của một vài thế lực tài chính. Bên cạnh đó, cần có khả năng thẩm định chính xác, kiểm soát chặt chẽ những chương trình, dự án lớn có vốn đầu tư nước ngoài. Cũng cần có biện pháp hạn chế những nguồn lực, khu vực kinh tế ngầm, có nguy cơ chi phối và lũng đoạn nền kinh tế đất nước.
Và sau hết, phải đẩy lùi nạn tham nhũng – tệ nạn vừa làm xói mòn niềm tin của người dân, vừa làm xói mòn ngân sách.
Bên cạnh đó, cần có một chính sách về tài chính, về thuế hợp lý hơn nữa nhằm khuyến khích, thúc đẩy sản xuất phát triển, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Cơ chế trên lĩnh vực này cần đổi mới theo hướng đơn giản, ổn định, đảm bảo tỷ lệ động viên hợp lý, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tích tụ vốn để tái đầu tư, đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất. Cũng cần nghiên cứu vấn đề quản lý của cục quản lý vốn, phải mang tính đồng bộ hơn nữa với địa phương, doanh nghiệp. Đây đang là vấn đề gây băm khoăn lớn ở các địa phương.
Nhân đây, tôi xin được đề cập vấn đề xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay. Một trong những điều cần lưu tâm là chống tư tưởng thỏa mãn, thực dụng trong một bộ phận đảng viên. Vấn đề đảng viên làm kinh tế tư bản – tư nhân vẫn còn lung túng, thiếu rõ ràng giữa tính nguyên tắc, lý luận và thực tế. Việc tăng cường giáo dục bản chất giai cấp công nhân của Đảng còn thiếu sâu rộng. Sự kế tục, vững vàng cả về số lượng và chất lượng của đội ngũ cán ộ với ba độ tuổi trong các cấp chưa đáp ứng đúng nhu cầu. Để tận dụng tài năng, trí tuệ trong và ngoài Đảng, cần đổi mới hơn nữa quan niệm, phương pháp đánh giá, bố trí cán bộ, sao cho vừa giữ những nguyên tắc cơ bản, vừa tránh dự cứng nhắc, định kiến, máy móc…
Điều đập vào mắt chúng ta là ngay ở khu trung tâm đô thị, sự phân hóa giàu nghèo càng trở nên gay gắt. Chúng ta đã cố gắng khắc phục tình trạng đó, nhưng kết quả chưa nhiều. Bên cạnh đó, các tệ nạn xã hội ở ngay bộ mặt trung tâm của thành phố vẫn còn nặng nề. Ngoài những tệ nạn chung như mại dâm, ma túy, ở đây còn có nạn giựt dọc, lừa đảo, “xin đểu”, ăn xin… Những thành phần này lại bao gồm cả trẻ vị thành niên, phụ nữ có thai, có con nhỏ, người tàn tật, khiến cho lực lượng công an bị lung túng trong xử lý. Những tệ nạn và những hình ảnh nhức nhối đó làm mất đi vẻ đẹp của khu trung tâm đô thị. Những vấn đề bức xúc, nổi cộm, này đỏi hỏi những chính sách và biện pháp mạnh mẽ hơn nữa, mới mong từng bước khắc phục.
Tôi cũng muốn được phát biểu về vấn đề cải cách hành chính hiện nay. Chúng ta đã có những nghị quyết, văn bản đề cập đến vấn đề này, nhưng trên thực tế sự chuyển biến còn chậm, kết quả chưa rõ ràng. Làm sao để có được một thể chế hành chính vừa chặt chẽ, lại vừa đơn giản, tiện lợi cho người dân, cho các tổ chức, đơn vị… nhất là trong vấn đề xây dựng, cấp phép, nhà đất… Tất cả những điều đó nếu chúng ta không chấn chỉnh, không làm tốt sẽ gây lãng phí lớn, trước hết là về thời gian, công sức các cơ hội làm ăn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, kế đến là gây bất bình, mất niềm tin của người dân đối với cơ quan nhà nước.
Minh Phong – Thế giới phụ nữ- Phụ nữ Việt Nam- Năm1998

Tình thương gia đình là động lực

Sáng nào cũng vậy, khoảng 4 giờ rưỡi sáng là nghe mẹ lục đục dọn hàng, anh em Trần Huy Sang – Trần Huy Vũ đều thức dậy ngay để phụ dọn bàn ghế, nhóm bếp, quét sân…
Gia đình Sang đến 6 miệng ăn nên rất khó khăn. Ba em sắm cái tủ kiếng nhỏ để trước nhà sửa đồng hồ…khách thì lúc vắng lúc đông, giải quyết bữa chợ hàng ngày chủ yếu là nhờ vào gánh hủ tiếu của mẹ em. Rất may là anh em Sang học buổi chiều nên buổi sáng có thể chia nhau phụ bán với mẹ. Khi nào mẹ mệt, hai anh em thay mẹ đứng bán, chia nhau làm mọi việc mà chẳng bao giờ nặng nhẹ, tị nạnh nhau. Bán đến 10 giờ, hai anh em dọn dẹp rồi lấy bài học ra ôn và mỗi em “ăn” một tô hủ tiếu “không người lái” với nước lèo mẹ bán cón dư ban sáng. Bữa cơm chiều tuy có mẹ lo…nhưng hai anh em đi học về đều cùng vào bếp phụ mẹ. Buổi tối Huy Vũ học cấp 3 phải lo bải vở khá nhiều nên Sang được giao nhiệm vụ vừa học vừa theo dõi việc học của đứa em út. Nhờ sự kèm cặp chặt chẽ của anh Sang mà Út luôn là học sinh giỏi trong lớp. Những công việc khá nhiều và nặng nề ấy chiếm hết thời gian của Sang … Thế mà trong lớp 8 trường cấp 2 Đỗ Văn Dậy – xã Tân Hiệp (Hóc Môn), em còn nhận nhiệm vụ kèm bạn Nguyễn Văn X., giúp bạn từ một học sinh yếu kém đã lên mức trung bình. Suốt những năm học cấp 1 và ba năm cấp 2, Huy Sang bao giờ cũng đứng nhất lớp. Đôi khi Sang rất muốn được hoà vào đội bóng của bạn đồng lứa trong xã…nhưng rồi nghĩ đến mẹ cha và chị Hai, Sang đành gác sức hấp dẫn của những trò chơi tuổi thơ sang một bên. Chị Hai học khá lắm, nhưng khi thấy mẹ buôn bán ế ẩm, nợ nần chồng chất…chị Hai đã quyết định bỏ học vào năm lớp 10 để trở thành cô thợ may gia công, kiếm tiền phụ giúp gia đình. Dù không nói ra nhưng ba mẹ em luôn buồn bực, hối tiếc về điều này, nhất là mỗi khi thấy con gái tất bật ra khỏi nhà vào buổi sáng sớm, đến chiều tối mới trở về.
Trong từng lời nói, cử chỉ của ba mẹ mỗi khi các con lầm lỗi, Sang đều cảm nhận được tình cảm của ba mẹ với các con và em luôn cố gắng dựa vào tình yêu thương ấy để làm động lực học tập và làm việc.
Louise Brown – Cô bé đầu tiên ra đời từ ống nghiệp giờ ra sao?
Louise Brown, với khuôn mặt tròn trĩnh và mớ tóc vàng óng, chắc chắn là cô bé được nói đến nhiều nhất trên các phương tiện truyền thông đại chúng ở thập niên 70. Ra đời ngày 25/7/1978 ở thành phố Oldham (Anh), “cô bé của thế kỷ” đã trở thành một sự kiện có tầm cỡ: lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, một phụ nữ vô sinh do ống dẫn trứng bị tắc đã có thai và sinh con. Đó là bà Lesley Brown. Được chồng khuyến khích, bà đã là người tiên phong trong việc “đẻ con có sự trợ lực của y học”.
Đó là kết quả nghiên cứu của hai nhà khoa học: bác sĩ Steptoe, nhà sản phụ khoa và bác sĩ Edwards, nhà sinh học. Bốn năm sau khi Louise ra đời, đến lượt cô em Nathalie cũng được sinh ra, nhưng đã là cô bé thứ 40 ra đời từ ống nghiệm. Và cho tới nay, tỷ lệ sinh đẻ qua ống nghiệm đã chiếm tới 14,8% trong số lần sinh đẻ trên toàn thế giới (báo cáo của IFFS – hiệp hội các tổ chức thụ tinh thế giới – tại hội nghị quốc tế về vô sinh và thụ tinh lần thứ 15 diễn ra vào tháng 12/1995).
Louise Brown nay đã 18 tuổi và là một thiếu nữ bình thường như mọi thiếu nữ khác: “tôi không cảm thấy điều gì đặc biệt ở một “cô bé của thế kỷ”. Tôi đang chuẩn bị thi tốt nghiệp lớp vườn trẻ. Tôi ưa nhóm nhạc rock “take that”, thích các cuộc trình diễn thời trang. Tóm lại, một cuộc đời sung sướng và bình thường của một thiếu nữ ngây thơ. Khi được hỏi: “cô muốn có con không?” L.Brown đã trả lời: “tôi còn chưa biết”. “Nếu cô cũng vô sinh, cô sẽ áp dụng sinh đẻ trong ống nghiệm chứ?”. “Chắc chắn rồi!”.
Phóng Viên – Thế giới phụ nữ- Phụ nữ Việt Nam- Năm1998

Hoa của trời – ký ức một vùng quê

Ky (Trần Văn Tự) là một cậu bé lớn lên trên lưng trâu, luôn bị mặc cảm vì người cha. Thậm chí, có khi Ky còn bị gọi là “con Việt gian”. Cái tiếng để đời quan trọng hơn cái ăn. May mà Ky còn có những điều nhân ái của ông ngoại dạy dỗ và cả sự nhẫn nại, thương yêu của mẹ. Còn Găm, cậu ấm của trưởng thôn Sầy (Mạnh Sinh) được cưng chiều vô lối, học ở cha thói khệnh khạng đối với dân làng. Đôi ban Ky và Lan Anh (một cô bé Hà Nội sơ tán) như một nét chấm phá đẹp nhắc lại một thời nhường cơm, xẻ chiếu trong chiến tranh, nghèo khó. Phim tản mạn thêm câu chuyện tảo hôn của Găm và người vợ lớn hơn chục tuổi. Đặc biệt việc tập trung mô tả ông Sầy, người đã đổi trắng thay đen để một liệt sĩ phải chịu tiếng oan là “Việt gian”, bôi nhọ thanh danh cả một gia đình. Ông là kẻ cậy quyền cậy thế, đến cả thầy giáo, học đường ông cũng không coi ra gì. Xem cứ ấm ức, ai cho ông lắm quyền đến thế? Và cả làng quê kia, sao những người cương trực lại ít ỏi và yếu ớt như vậy? Người làm phim bây giờ dường như thích lý giải kiểu nhân quả, “thiện ác đáo đầu chung hữu báo”. Sau đợt máy bay Mỹ giết chết hai người con, ông Sầy thấy một con ong lớn bay vào nhà, ông nghĩ là hương hồn của người liệt sĩ báo oán. Ông đã đến dập đầu trước bàn thờ người liệt sĩ để ăn năn, sám hối và nhận tội. Kết phim, Găm cúi mặt trên đồng ruộng, còn Ky nhận giấy áo nhập học. Đạo diễn Đỗ Minh Tuấn vốn dĩ là một người đã làm nhiều phim về thiếu nhi, chính vì thế trong phim có những trường đoạn đẹp; cảnh Ky hái sung cho Lan Anh, cảnh hai đứa trẻ nuôi chim trong lò gạch bỏ hoang. Đặc biệt, anh khá thành công trong việc chọn diễn viên vai Ky, một diễn viên nhí không đẹp, nhưng càng diễn, nhân vật càng sáng ra và lung linh hơn. Những mảnh dựng cảnh đánh bom, cứu sập, bắt tù binh khá hiện thực.
Phim sẽ thành công hơn nếu như Đỗ Minh Tuấn khai thác sâu vào thế giới con trẻ, giảm bớt những ẩn ức thù nghịch được tô quá đậm ở vai Sầy. Và giá như hoa của trời xoay quanh tuổi thơ tình bạn, lòng tốt, sự thù nghịch của người lớn đã ảnh hưởng đến tuổi thơ như thế nào thì chủ đề phim sẽ rõ ràng hơn, súc tích hơn.
Sổ tay văn nghệ
“Đến chậm, gặm xương” là cái gì?
Có trời mới biết. Tôi không thể nào biết được khi nhìn tấm quảng cáo khổ 37 x 26cm của Dịch vụ chuyển phát nhanh toàn cầu nằm chình ình trên mặt báo. Chỉ với bốn chữ đến chậm, gặm xương và một khúc xương không còn chút… thịt nào cả. Không ai có thể hiểu được “tác giả” muốn gửi đến khách hàng một “thông điệp” gì?
Hãy khoan bàn đến nghệ thuật quảng cáo, chúng tôi chỉ xin lạm bàn đến yếu tố văn hóa ở tấm quảng cáo lạ lùng này. Phải chăng chỉ có Dịch vụ chuyển phát nhanh toàn cầu là chuyển phát nhanh nhất, còn những nơi khác đều không nhanh bằng, có nghĩa là họ đến chậm nên đều phải… gặm xương? Hoặc Dịch vụ chuyển phát nhanh toàn cầu cho rằng trách nhiệm của Dịch vụ chuyển phát nhanh toàn cầu là không được đến chậm, vì nếu để xảy ra thì Dịch vụ chuyển phát nhanh toàn cầu chỉ còn cách… gặm xương thôi? Lý giải như thế cũng không ổn. Ai đời một công ty lớn hoặc một người có văn hóa lại tự đánh giá về đồng nghiệp và về mình như thế!
Tôi bèn lật lại những quyển như thành ngữ tiếng Việt (nhà xuất bản khoa học xã hội 1993), thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam (nhà xuất bản Đồng Nai), tự điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam (nhà xuất bản giáo dục 1993), thậm chí cả tự điển giải thích thành ngữ tiếng Việt (thành ngữ giáo dục 1995)… cũng không thấy cái “thành ngữ” quái chiêu này. May quá, trong từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (nhà xuất bản Văn Hóa) của giáo sư Nguyễn Lân ở trang 57 có câu: “chó ghét đứa gặm xương, mèo thương người hay nhử”. Câu này được giải thích: “người ta không ưa những người tranh quyền lợi của mình, nhưng lại thích người mơn trớn mình”. Vậy đến chậm gặm xương được dùng trong ngữ cảnh cụ thể này có nghĩa là gì? Thật khổ sở hết sức cho tôi, khi xem tấm quảng cáo mà lại có cảm giác như người ta ngang nhiên… mắng vào mặt mình. Trời ạ! Trong sự cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường thì xin Dịch vụ chuyển phát nhanh toàn cầu cho biết: “ai đến chậm để gặm xương?”. Truyện ngắn trẻ con không được ăn thịt chó của nhà văn Nam Cao (1917 – 1951) kể rằng: ông bố rủ bạn bà đến nhậu đã đời, trong khi đó vợ con còm cõi đang đói rã họng.Lúc bưng mâm xuống thì chỉ thấy toàn… xương! Ông bố rằng, trẻ con không được ăn thịt chó mà chỉ có quyền… gặm xương thôi! Vui quá nhỉ! Vậy xin trở lại vấn đề: đến chậm gặm xương chắc chỉ có Dịch vụ chuyển phát nhanh toàn cầu mới có thể trả lời nổi chăng? Mong lắm thay!
Phóng Viên -Thế giới phụ nữ- Phụ nữ Việt Nam- Năm1998

Người dạy vẽ cho trẻ em câm điếc

Trong số hơn 30 gallery trong thành phố, có lẽ gallery ở bảo tàng Mỹ thuật là nơi duy nhất có bày và bán tranh của thiếu nhi. Một điều đơn giản cho lý do đặc biệt này vì chủ gallery là họa sĩ Trần Xuân Hòa, chị đồng thời là giáo viên dạy vẽ của trường Hy vọng 8. Chị tâm sự với tôi:
Năm 1992, sau một ngày làm việc với các phóng viên Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh thực hiện phim tài liệu ba nữ họa sĩ và những nét vẽ trong chiến khu (Trần Xuân Hòa là một trong ba gương mặt ấy), chị Phương Lan, anh Dư Hoàng giới thiệu tôi về dạy vẽ ở trường Hy vọng 8 (540 trẻ em câm điếc) ở Hưng Phú (gần cầu chữ Y). Thế là, bên cạnh tư cách giảng viên mỹ thuật trường đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh, tôi có thêm hai buổi dạy/tuần cho các em…”
Vâng, đấy là sự cân bằng để cảm xúc trong chị dồi dào sức sống hơn. Nhận lời đến với các em trường Hy Vọng 8, Trần Xuân Hòa lao đến với một ngôn ngữ mới – ngôn ngữ dấu hiệu. “Tuy nhiên, nhìn những gương mặt dễ thương ẩn chứa nỗi niềm riêng thì sự cố gắng hòa nhập vào thế giới các em là điều tôi cần cố gắng hơn. Tôi đã biết đưa tay ngang mày để nói với các em là “màu đen”, ấn ngón tay cái dưới cằm là “màu trắng”… Cứ vậy, chị và hơn 20 học sinh vừa “học nói”, vừa học sáng tác, vừa học hiểu nhau. Tháng 3/1993, 200 tác phẩm của 15 học sinh ở trường được triển lãm ở Bảo tàng Cách mạng. Sau đó, chị lưu lại rất nhiều tranh của các em bán ở gallery.
Là một họa sĩ trưởng thành từ chiến khu, chị tâm đắc về đề tài kháng chiến cũng như sự thông cảm những bất hạnh mà con người đớn đau nhận lấy. Chị Trần Xuân Hòa tâm sự: “nhìn chung, hiện nay các em thiếu nhi ở thành phố và các em khuyết tật được quan tâm tạo điều kiện tiếp xúc và học tập mỹ thuật. Chẳng hạn ở những lớp học vẽ của các quận, huyện nội ngoại thành. Tôi ao ước, giá như tất cả các em khuyết tật đang ở nông thôn đều có được những lớp học như vậy, thì cuộc sống của các em bớt mặc cảm hơn, được an ủi hơn nhiều lắm”.
Tôi cũng mong vậy.
Sự nguy hại của rượu
Sự tác hại của rượu trên cơ thể chúng ta tủy theo độ lượng bạn uống, không phải tùy theo phản ứng của bạn với rượu. Khi bạn uống thường xuyên, cơ thể của bạn quen với rượu, nên càng ngày bạn càng phải uống nhiều thêm hơn mới có cảm giác. Vì vậy, người tửu lượng cao phải uống nhiều lắm mới có thể say. Do đó, họ dễ làm hại cơ thể mình hơn là người chỉ uống một, hai ly đã bị ép phê.
Người uống rượu nhiều, thường xuyên, làm hư hại nhiều tế bào trong cơ thể, dẫ đến một số bện nguy hiểm như:
Não: tế bào não bị hủy hoại, đưa đến suy nhược thần kinh, trầm mặc, kém trí nhớ và dần dần bị chứng mất trí.
Miệng, cổ và thực quản: người nghiện rượu dễ bị ung thư ở các bộ phận này. Các mạch máu ở cuối ống thực quản bị lớn, dễ chảy máu.
Tim và sự tuần hoàn: người uống rượu nhiều thường có triệu chứng máu cao, bệnh tim hay bị biến chứng bất ngờ. Nghiêm trọng hơn, sự thiếu dinh dưỡng do uống nhiều rượu có thể gây ra sự hư hại vĩnh viễn cho các cơ tim.
Da: mặt người nghiện rượu lúc nào cũng đỏ, vì các mạch máy dưới da bị hư hại.
Gan: rượu ảnh hưởng trực tiếp đến gan, do đó người nghiện rượu dễ bị xơ gan, vàng da và đôi khi dẫn đến ung thư gan.
Béo phì: vì rượu chứa nhiều calori, nên béo phì thường là vấn dề của các bợm rượu.
Bộ tiêu hóa: người hay uống rượu thường bị đau bụng vì bị viêm dạ dày, tùy tạng, hay loét hệ thống tiêu hóa.
Các dây thần kinh: thường bị hư hại do những ảnh hưởng trực tiếp của rượu hay do thiếu dinh dưỡng.
Sự sinh sản: đàn ông uống nhiều rượu có thể sinh ra bất lực, hay vô sinh. Ở đàn bà có thể sinh ra rối loạn kinh nguyệt.
Sức mạnh của Đảng là sự gắn bó mật thiết với nhân dân
Vấn đề quan trọng ở đây là làm thế nào để phát huy vai trò của đoàn thể tham gia xây dựng chính quyền. Đồng chí phó thủ tướng Nguyễn Khánh đã phát biểu: phải có một cơ chế làm việc cụ thể để chủ trương chính sách pháp luật nhà nước thể hiện được ý chí nguyện vọng của nhân dân. Muốn vậy: khi xây dựng các chủ trương, các quy định của chính phủ, cần tham khảo ý kiến các đoàn thể; quá trình thực hiện các chủ trương ấy có vai trò giám sát của đoàn thể để chính quyền lắng nghe và kịp thời uốn nắn; về con người, cán bộ công chức phải là người có quan điểm quần chúng.
Nội dung nêu trên có việc chúng ta đã làm và cần làm tốt hơn như định kỳ làm việc giữa chính quyền và đoàn thể và giải quyết các vấn đề nêu ra một cách cụ thể, duy trì chế độ giao ban bốn thường trực như hiện nay để mặt trận và đoàn thể có cơ sở thực hiện tốt chức năng giám sát của mình.
Để có một đội ngũ công chức có quan điểm quần chúng, chúng tôi nghĩ cần coi trọng nguồn từ cán bộ đoàn thể, cần chọn lựa từ cán bộ đoàn thể để đưa đi đào tạo đội ngũ cán bộ kế thừa của ủy ban nhân dân ngay từ các quận. Và khi tuyển chọn công chức, nên chăng, bên cạnh các tiêu chuẩn về trình độ học vấn – chuyên môn, sẽ có một tiêu chuẩn: đã từng là cán bộ đoàn thể (Đoàn thanh niên, hội Phụ nữ…). Nên có chế độ biệt phái công chức nhà nước sang công tác đoàn thể một thời gian để gần gũi quần chúng và hiểu biết hơn về công tác vận động quần chúng.
Phóng Viên -Thế giới phụ nữ- Phụ nữ Việt Nam- Năm1998

Đính hôn & từ hôn?

Dự thảo luật hôn nhân – gia đình lần này có đưa ra hai điều khoản mới: đính hôn (điều 16), từ hôn (điều 17). Như vậy các nhà soạn luật đã “luật hóa” một số nghi thức cổ truyền về hôn nhân – vấn đề mà các bộ luật hôn nhân – gia đình năm 1959 và 1987 đã cố ý tránh né! Tuy nhiên, sự luật hóa này vẫn cần phải thực tế hơn nữa.
Thật ra, trong suốt 37 năm qua, ý muốn của hai bộ luật hôn nhân gia đình cũ là không thừa nhận mọi nghi thức kết hôn khác ngoài việc đăng ký chính thức tại phường, xã, đã bị vô hiệu trong thực tế. Ở thôn quê, người ta vẫn áp dụng các nghi thức dạm hỏi, tảo hôn, đính hôn, ép hôn… Các gia đình khá giả, nhất là trong thời kỳ đổi mới, đã tổ chức lễ hỏi, lễ cưới một cách rình rang, tốn kém. Nghi thức kết hôn theo nhà nước (tuyên bố tại cơ quan) chẳng ai màng áo dụng, trừ một số công nhân viên quá nghèo. Vì vậy, dự thảo đưa ra các điều khoản đính hôn, từ hôn , là một tiến bộ phù hợp với thực trạng xã hội.
Điều 16 quy định, nam nữ có đủ điều kiện kết hôn, tự nguyện muốn kết hôn, có thể làm lễ đính hôn trước ngày đăng ký kết hôn… Việc tổ chức lễ đính hôn do hai bên nam, nữ và gia đình của hai bên thỏa thuận theo phong tục, tập quán… Tuy nhiên, các nhà làm luật chẳng hiểu sao lại quy định rằng: không được yêu sách của cải khi đính hôn (tại điều 16) và khi từ hôn , không được đòi lại lễ vật, quà tặng khi đính hôn (tại điều 17) cũng như, không được viện cớ đã đính hôn để cưỡng ép kết hôn (điều 16). Với những điều cấm này, hai nghi thức đính hôn và từ hôn không phát sinh một hậu quả pháp lý nào?!
Thật ra trước đây các định chế về đính hôn, từ hôn đã được quy định khá chi li trong các bộ luật: Hồng Đức, Gia Long và ba bộ dân luật dưới thời Pháp thuộc. Điều 332 luật Hồng Đức quy định rằng, trong trường hợp đính hôn mà chưa kết hôn, nếu người con trai bị ác tật, người con gái được quyền bãi hôn nhưng phải trả lễ vật; nếu người con gái bị ác tật mà người con trai không bãi hôn thì phải tội. Theo điều 94 luật Gia Long, nếu con trai hoặc con gái bị tàn tật, việc này phải được hai gia đình biết rõ để tùy nghi quyết định; nếu một đàng giấu giếm sự tàn tật để lập hôn thú, việc này được kể như một sự tráo hôn, sẽ bị luật pháp trừng phạt. Dẫn các điều trên để thấy rằng, hai bộ cổ luật của ta đều có tính đến hệ quả pháp lý của việc đính hôn và từ hôn.
Dân luật Pháp và Mỹ tuy không đề cập cụ thể đến vấn đề đính hôn, nhưng tòa phá án đã xét xử nhiều vụ án “không thực hiện cam kết lập hôn thú” (nam nữ tự giao ước – thề nguyền rằng sẽ cưới nhau). Ngày 30/5/1938, tòa án Pháp đã xử rằng: “mọi sự cam kết lập hôn thú đều vô hiệu vì chạm đến quyền tự do không giới hạn của đương sự. Việc không thi hành lời cam kết đó có thể làm cho người có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại, khi sự bất thi hành gây nên một sự thiệt hại thật sự. Nhưng tố quyền xin bồi thường không bắt nguồn từ sự cam kết lập hôn thú, mà bắt nguồn từ sự thiệt hại dân sự đã xảy ra”.
Năm 1927, luật gia Josserand (Pháp) định nghĩa bản chất pháp lý của sự hứa hôn: “sự hứa hôn có giá trị như một khế ước song phương, mang lại cho hai đương sự một nghĩa vụ hành động. Khế ước này có thể bị tiêu hủy chẳng những do sự tuowg thuận, mà còn do ý muốn đơn phương. Song quyền tiêu hủy đơn phương không tuyệt đối, nó chỉ được hành xử nếu có lý do chính đáng, việc lạm quyền sẽ gây nên trách nhiệm bồi thường”. Các bộ dân luật Bắc và Trung dưới thời Pháp thuộc, chịu ảnh hưởng của học lý này, quy định rằng sự bãi hôn không có lý do chính đáng, phát sinh trách nhiệm bồi thường cho người bị hại.
Tóm lại, để các điều 16,17 có được hơi thở của phong tục và đạt hiệu quả pháp lý, nên chăng điều 16 cứ khẳng định, đính hôn là lễ giao ước thành hôn giữa hai đàng trai, gái theo sự ưng thuận tự nguyện của đôi trẻ. Chấp nhận sự đính hôn là chấp nhận phần nào của phong tục, vì vậy luật không cần cấm yêu sách về của cải, đây là vấn đề tế nhị và khó cấm. Vì vậy, trong điều 17, cũng không cần nhấn mạnh “khi từ hôn, không được đòi lại lễ vật”, mà chỉ cần quy định: “một trong hai bên có quyền từ hôn, nhưng phải có lý do chính đáng; nếu không có lý do chính đáng, phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại”.
Điều 16 quy định “không được viện cớ đã đính hôn để cưỡng ép kết hôn” cũng là thừa, là bày tỏ sự yếu kém về mặt logic. Bởi lẽ, trong điều khoản “nguyên tắc cơ bản”, luật đã cấm “cưỡng ép kết hôn”, và nếu định nghĩa đính hôn chỉ là “sự giao ước giữa hai đàng” thì tự nó có nghĩa là “bản ghi nhớ”, hoàn toàn không đồng nghĩa với “hợp đồng” như việc “đăng ký kết hôn” chính thức tại ủy ban nhân dân phường xã!
Vương Linh – Thế giới phụ nữ- Phụ nữ Việt Nam- Năm1998

Điều kỳ diệu từ những đồng vốn nhỏ

Chỉ với 200.000đ – 300.000đ – 500.000đ (tối đa là một triệu) mà có thể vực mức sống của một gia đình từ chỗ đói nghèo vươn tới đủ ăn đủ mặc, thậm chí còn sửa sang được nhà cửa và sắm sanh các dụng cụ sinh hoạt…điều đó thoạt nghe có vẻ khó tin. Song, thực tế cho thấy: trong ba năm qua, ở thành phố Hồ Chí Minh có không ít gia đình đã thoát khỏi cảnh nghèo khó một cách kỳ diệu từ những đồng vốn nhỏ ấy.
Chúng tôi gặp chị Phạm Thị Toan – trưởng ban nông dân ấp 3 xã Phước Bình, huyện Thủ Đức – vào lúc hơn 5 giờ chiều, khi chị đang “vào vai” bà chủ quán cháo lòng trước cửa nhà mình. Chị vui vẻ nói với chúng tôi: “nếu không được hội phụ nữ xã trợ vốn cho từ tháng 8/1993, thì gia đình tôi làm sao có thể được như ngày hôm nay…”. Quả thật, ngày đó hạnh phúc của gia đình chị đang đứng trước nguy cơ tan vỡ! Do thất nghiệp, chồng chị tối ngày say xỉn rồi chửi vợ đánh con. Còn bốn đứa con của chị đều đang ở tuổi ăn học. Chỉ hơn trăm ngàn đồng vốn cho nồi cháo lòng mà chị cũng phải đi vay nặng lãi, nên có thời kỳ gia đình chị phải ăn cháo thay cơm hàng tuần lễ. Thiếu thốn đủ bề, chồng chị càng uống rượu, càng làm tan nát cửa nhà… Thế rồi, với 600.000đ được vay từ nhóm phụ nữ TDTK của hội phụ nữ xã, chị Toan vừa “đầu tư” thêm cho gánh cháo lòng, vừa mua 30 con gà đẻ về nuôi. Bốn tháng sau, gà bắt đầu đẻ – trung bình mỗi ngày 20 quả trứng. Tiền bán trứng chị dùng để mua cám nuôi gà và mua đồ ăn cho gia đình, còn tiền bán cháo thì hàng ngày chị góp lại để cuối tuần trả vốn và lời cho nhóm. Sau 6 tháng, chị trả hết 600.000đ và còn dư lại được 30 con gà đẻ, 20 con gà giò. Sau đợt vay lần hai thì chị Toan đã sửa được nhà và còn mua ti vi cho các con xem. Sau lần vay thứ ba, gia đình chị xây được chuồng heo và sắm thêm tiện nghi sinh hoạt cho gia đình… Nhưng theo chị Toan cái “được” lớn nhất mà những khoản vốn của hội đem lại cho chị chính là hạnh phúc gia đình: chồng chị Toan hiện nay rất tích cực phụ vợ trong “sự nghiệp” nuôi gà và bán cháo lòng!
Hai năm trước, sự giúp đỡ của hội phụ nữ phường 1, quận Gò Vấp đến gia đình chị Nguyễn Thị Thu Thủy ở số nhà 562/1 Lê Quang Định đúng vào lúc gia đình chị trong cảnh khó khăn, túng thiếu chồng thất nghiệp, con trai đang đau bệnh. Tuy ít ỏi, nhưng nhờ có 300.000đ của hội mà chị Thủy đã sang được một chiếc xe đẩy bán giải khát với giá 2,5 triệu trả dần trong một năm. Giờ đây, trung bình mỗi ngày chị kiếm được 30.000đ. Người phụ nữ ấy vui vẻ “khoe” với chúng tôi: “từ ngày đứng bán giải khát, không còn phải “ăn bữa nay lo bữa mai” nữa nên em mập lên tới gần 5 kí! Trước tết vợ chồng em cũng mua được chiếc cassette một triệu đồng và hiện đang tích lũy để năm tới lo sửa nhà…”
Chị N.T.M – một phụ nữ hoàn lương hiện đang sinh hoạt ở nhóm phụ nữ TDTK của quận hội 8 – hồn nhiên kể: “ngay từ những ngày đầu em mới từ trường trở về địa phương, các chị ở quận hội đã đến nhà tìm hiểu và trợ vốn cho em 200.000đ để mua chiếc xe đạp cũ làm phương tiện hàng ngày sang quận 6 lột tôm. Sau tháng rưỡi thì em trả xong tiền chiếc xe. Khi em lấy chồng, nhóm lại trợ vốn 500.000đ để chồng em mua phụ liệu làm thợ rèn tại nhà. Sau ba tháng chúng em trả đủ cả vốn lẫn lãi. Ngoài ra, chúng em còn tự tiết kiệm thêm nên sau nhiều vòng vay đã sắm được tủ quần áo, giường, quạt…”. Chúng tôi đến thăm gia đình M vào một buổi chiều, khi chị vừa đón cậu con trai 5 tuổi kháu khỉnh, bụ bẫm ở trường mẫu giáo về. Trước khi chia tay, M không quên nói với chúng tôi: “không có các dì, các chị ở hội phụ nữ động viên về tinh thần và giúp đỡ về vật chất thì em không thể có được mái ấm như hiện nay!”.
Những câu nói như thế tôi được nghe rất nhiều khi tiếp xúc với những cô gái đã từng có một thời lầm lạc, nhưng giờ đây đang là những người vợ, người mẹ hạnh phúc trong những tổ ấm dù đơn sơ và còn không ít nhọc nhằn, vất vả… Thế nhưng, điều kỳ diệu kia liệu có thể xảy ra không, nếu như những phụ nữ nghèo khó chỉ nhận được tấm lòng cảm thông cùng vài ba trăm ngàn đồng vốn của hội? Chúng ta hãy nghe tâm sự của chị Nguyễn Thị Tâm – nhóm trưởng nhóm “ve chai” ở phường 6, quận 8:
“Từ khi được sinh hoạt ở nhóm, chúng tôi mới hiều cuộc sống của chị em chúng tôi trước đây khó khăn một phần cũng là do chi tiêu nhiều lúc tùy tiện, lãng phí. Hơn nữa, giờ đây chúng tôi cũng hiểu được rằng nghèo đói còn do sinh đẻ không có kế hoạch: trong nhóm, có chị mới 25 – 26 tuổi đã có tới bốn con! Do vậy, chúng tôi tình nguyện triệt sản hoặc dùng các biện pháp tránh thai khác.
“Bên cạnh đó, nhờ có sinh hoạt nhóm phụ nữ TDTK mà chị em chúng tôi mới có điều kiện tham gia sinh hoạt hội và nhờ vậy mà kiến thức về cuộc sống của chị em ngày càng được mở mang và nâng cao…”.
Giờ đây, tuy cuộc sống chưa phải là đã hết khó khăn, song 13 chị em ở “nhóm ve chai” không chỉ lo được cho gia đình đủ ăn đủ mặc mà còn có “của ăn của để” phòng khi trái gió trở trời… Nếu có dịp ghé thăm, chắc chắn bạn sẽ được nghe các chị vui vẻ kể về những dự định tương lai của mình – cái tương lai đã được mở ra từ những đồng vốn nhỏ nặng nghĩa tình của hội. Chẳng lẽ đó không phải là điều kỳ diệu?
Nguyễn Thị Xuyến – Thế giới phụ nữ- Phụ nữ Việt Nam- Năm1998

Quấy rối tình dục tại nơi làm việc

Hiện nay, tìm cách vận dụng mối giao thiệp nam nữ trong việc làm ăn cũng có thể tạo thêm ảnh hưởng quan trọng đến sự thành công. Bất cứ nơi nào có nam nữ làm việc chung là nơi đó có vấn đề thu hút giới tính. Chỗ làm việc là nơi nam nữ có dịp hiểu nhau rất nhiều. Tuy nhiên, những sự ngăn cách sâu xa hoặc điều những điều cấm kỵ, khiến cho bầu không khí nơi đó thêm phần hào hứng, phấn chấn nhưng cũng dễ có sự mập mờ.
Người đàn ông sẽ nghĩ gì khi một đồng nghiệp nữ chồm qua vai mình, với tay đến bàn phím máy vi tính, để vài sợi tóc chạm vào má mình? Người phụ nữ phản ứng ra sao, khi vừa bước vào phòng họp liền bị một bạn đồng nghiệp nam đưa cái nhìn từ đầu đến chân mình? Việc chọc ghẹo có bị ngăn cấm? Có được phép đưa ra những lời bông đùa xen lẫn ý khêu gợi?
Theo Aaron Kipnis – đồng chủ tịch viện nghiên cứu giới tính tại Santa Barbara, California, đó là một trong những đặc tính chung của mọi người mà chúng ta không thể dập tắt chỉ vì lý do đang làm việc. Tuy nhiên nhận thức xúc cảm dục tính là một lẽ, hành động theo dục tính lại là một việc khác. Hiện nay, hơn bao giờ hết, việc tìm cách vận dụng tương quan giới tính trong công việc với cấp trên, bạn ngang hàng hoặc cấp dưới có thể là điều rất hệ trọng để giữ vững chức nghiệp và đi đến thành đạt.
Sau đây là một số điều mấu chốt là theo các chuyên gia, sẽ giúp ngăn ngừa tình huống có thể bùng nổ thành vấn đề rắc rối.
Quần áo thích hợp với công việc. Không cần giấu đường cong thân thể phái nữ. Tuy nhiên, có một khoảng cách rất lớn giữa duyên dáng phái nữ và lấp lửng khêu gợi. Quần áo mặc tại chỗ làm việc không nên có tính cách mời gọi.
Thận trọng lời nói. Nam giới có thể không để ý đến thói quen nói năng bông đùa thô bạo của mình, nhưng nữ giới cảm thấy bị xúc phạm khi phải nghe những lời như vậy. Nam giới phản ứng mạnh trước cách ăn mặc của phái nữ và ngược lại, nữ giới phản ứng cũng mạnh như vậy trước cách nói năng của nam giới. Nữ giới rất nhạy cảm trước những lời nói ám chỉ. Cần tránh những lời bông đùa về dục tính, ngay cả những lời bàn tán gợi ý thoáng qua.
Thận trọng về ý nghĩa các cử chỉ. Theo nhà tâm lý học Robin Kawalski, nam giới thường có khuynh hướng suy diễn nhiều động tác của nữ giới theo chiều hướng có mang ý nghĩa dục tích. Phải thận trọng về những động tác có thể bị hiểu lầm. Nếu nhận thấy dấu hiệu chuyển động dục tính, hãy tách ra ngay.
Đặt tình cảm đậm đà đúng chỗ. Sự bông đùa đôi khi đem lại chút ít nhộn nhịp trong một ngày làm việc quá phẳng lặng. Đó là điều tốt nhưng cũng cần dè chừng rằng người làm việc chung với mình cũng chỉ là con người bình thường, có ý nghĩ về giới tính. Không nên bông đùa sâu hơn.
Khi cùng hợp sức làm chung một công việc, như công tác cấp cứu hoặc cùng lo hoàn thành sản phẩm cho đúng kỳ hạn, đôi khi nam nữ có thể nhìn nhau với tình cảm sâu đậm khác thường. Nhưng với người đã có gia đình, cảm tình sâu đậm đó nhất thiết không phải là tình yêu. Sự thành tựu trong công việc cũng giống như một chất hưng phấn nhân tạo và thường đọng lại lâu dài. Tuy nhiên, không thể để điều này lôi cuốn tâm hồn đi quá xa.
Điều nguy hại của sự mơ tưởng. Nhiều trường hợp ngoại tình được nhen nhúm từ cảnh cùng nhau làm việc cao độ, tại sở làm, sau đó có thể nguôi đi mau chóng. Ngoài đời, cá tính thật sự của đôi bên có thể hoàn toàn khác với lúc ở tại chỗ làm việc. Ngoại tình với người cùng làm việc không những gây đổ vỡ gia đình mà còn làm tiêu tan cả chức nghiệp. Trước kia, thường chỉ có người nữ bị mất chỗ làm, nhưng hiện nay ngày càng có nhiều công ty chủ trương người nam cũng phải chịu trách nhiệm về sự thiếu suy xét sáng suốt của mình.
Đừng đi quá giới hạn. Sự quấy rối tình dục có thể bao gồm nhiều khía cạnh, từ việc dùng lời nói đến chỗ có hành vi đụng chạm thân thể. Khó tách bạch rõ trắng đen. Quan niệm của một người phụ nữ có lý trí bình thường về việc quấy rối tình dục có thể khác hẳn quan niệm của người đàn ông. Khi xét đến mối quan hệ nam nữ, cần đối xử theo quan niệm về sự đúng đắn mà phái ấy mong muốn.
Nạn quấy rối tình dục tại chỗ làm việc có thể đem lại nhiều thiệt hại cho đôi bên, hoặc cho những người có liên can, đôi khi còn có thể làm sút giảm uy tín và sức sản xuất của một công ty.
Hữu Hương -Thế giới phụ nữ- Phụ nữ Việt Nam- Năm1998